KỲ 2. TUYÊN TRUNG HẦU NGUYỄN VĂN TUYÊN

0
253

KỲ II: NGUYỄN VĂN TUYÊN VỚI VÙNG ĐẤT NAM BỘ

1. Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên theo tòng quân với Nguyễn Ánh năm 1788. Lúc này, ông đã 25 tuổi. Mặc dù Nguyễn Văn Tuyên đến với nhà Nguyễn muộn hơn những tướng lĩnh khác như Trịnh Hoài Đức, Lê Văn Duyệt, Ngô Tùng Châu, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Thoại… nhưng ông luôn được Nguyễn Ánh trọng dụng. Đại Nam nhất thống chí chép về ông: “… ông theo việc chinh chiến, có nhiều chiến công, làm đến Vệ úy vệ Hữu Bảo, quân Chấn Võ. Thời trung hưng, ông theo Lê Văn Duyệt dẹp ác man ở Quảng Ngãi, đốc suất binh dân đào sông Vĩnh Tế, rồi làm Trấn thủ hai thủ Định Tường và Vĩnh Thanh, lại được làm Án thủ Châu Đốc, đeo quốc ấn bảo hộ Cao Man” (1). Tuy nhiên, so với nhiều vị tướng khác của nhà Nguyễn thì Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên là một trong những vị tướng để lại ít tư liệu lịch sử nhất. Tìm trong Đại Nam thực lục (2) cũng chỉ thấy ghi chép về ông cũng sơ sài như: “… khâm sai cai cơ thuộc nội cai đội Nguyễn Văn Tuyên làm Phó vệ úy Hổ oai…” hoặc năm 1801, Nguyễn Ánh phong hàng loạt các quan tướng thì Nguyễn Văn Tuyên được phong từ Phó vệ úy Hổ oai thành Vệ úy vệ Kiên oai. Đây là một chức quan võ có phẩm trật tương đương với chánh tam phẩm, chỉ huy từ 500 – 600 quân.

Võ quan triều Nguyễn
Võ quan triều Nguyễn (Ảnh: Internet)

Sau năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi Gia Long, Nguyễn Văn Tuyên chỉ là Chấn võ quân, Hữu bảo vệ úy thì tháng 3/1812 ông được vua phong là Kiêm quản vệ Chấn bảo nhất. Năm 1813, Nguyễn Văn Tuyên trở thành Vệ úy Chấn bảo nhất quân Chấn vũ Khâm sai Chưởng cơ (3). Rồi sau đó là hàng loạt các chức vụ quan trọng khác như Trấn thủ Biên Hòa, Trấn thủ Định Tường và Trấn thủ Vĩnh Thanh. Thời Gia Long và đến năm 1832, Nam kỳ được chia là năm trấn là Biên Hòa, Phiên An (Sài Gòn ngày nay), Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên  thì Nguyễn Văn Tuyên đã làm Trấn thủ đến ba trấn thì rõ ràng tài nghệ quản lý về hành chính và quân sự của ông không phải là tầm thường. Nhất là Nguyễn Văn Tuyên được giao nhiệm vụ Thống chế biền binh thành Gia Định và được dự bàn việc của thành Gia Định tức việc của cả vùng Nam kỳ. Thậm chí, có một thời gian ông được giao giữ ấn triện thành Gia Định khi Lê Văn Duyệt về kinh.

2. Kinh Vĩnh Tế được hoàn thành từ năm 1819 đến 1824. Quá trình đào kinh có thể chia là ba giai đoạn: giai đoạn I bắt đầu từ tháng 12/1819. Theo Gia định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì: “Vua ban dụ cho Trấn thủ Vĩnh Thanh là Thống chế Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, Hữu quân Hữu bảo Vệ úy, Chưởng Tuyên Quang Hầu Phan Văn Tuyên đôn đốc dân phu trấn Vĩnh Thanh mỗi phiên 5.000 người, lính thú đồn Oai Viễn 500 người, Chiêu trùy Tôn La Ha Toàn người Cao Miên đem quân dân mỗi phiên 5.000 người, ngày 15 tháng 12 khởi công”. Tháng 3/1920, công trình đào kinh Vĩnh Tế tạm ngưng do nhiều nguyên nhân trong đó có cái chết của Gia Long Nguyễn Ánh.

Kênh Vĩnh Tế đầu thế kỷ XX Tuyên Trung Hậu Nguyễn Văn Tuyên
Kênh Vĩnh Tế đầu thế kỷ XX. Việc đào kênh có công lớn của Tuyên Trung hầu (Ảnh: Internet)

Sau khi lên ngôi, Năm 1822, vua Minh Mạng lại có chỉ dụ tương tự:

“Đường sông Vĩnh Tế liền với Tân Cương, xe thuyền qua lại đều là tiện lợi. Đức Hoàng Khảo Thế Tổ Cao Hoàng Đế ta (ý nói vua Gia Long) mưu sâu, tính xa, chú ý việc ngoài biên. Công việc đào kênh mới bắt đầu chưa xong. Nay ta theo chí tiên hoàng, cố nghĩ cách khó nhọc một lần mà được thong thả lâu dài về sau”. Việc đào kinh Vĩnh Tế lại được tiếp tục. Giai đoạn II này bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1823. Trực tiếp chỉ huy vẫn do Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Văn Tuyên và Trần Công Lại. Số lượng tham gia đào kinh lần này lên đến 55 ngàn người, trong đó có hơn 16 ngàn là quân và dân Chân Lạp.

Trong hai đợt đầu tham gia đào kinh Vĩnh Tế, Nguyễn Văn Tuyên được giao giữ chức Phó đổng lý, phụ giúp cho Nguyễn Văn Thoại. Do đây là một công trình được nhà Nguyễn xác định là quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển của vùng đấy Châu Đốc – Hà Tiên nên ngoài sức lực của quan binh và người dân địa phương thì triều đình cũng đã chu cấp cho hai đợt đầu trên 512 ngàn quan tiền và gần một trăm ngàn phương (4) gạo. Để quản lý con người và tiền bạc như nói trên, vai trò của một Phó đổng lý như Nguyễn Văn Tuyên quả là không nhỏ.

Kênh Vĩnh Tế được chạm khắc trên Cao đỉnh ở Huế Tuyên Trung Hậu Nguyễn Văn Tuyên
Kênh Vĩnh Tế được chạm khắc trên Cao đỉnh ở Huế (Ảnh: Internet)

3. Năm 1829, Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại lâm bệnh và mất. Có người đề nghị Nguyễn Văn Xuân (5) lên thay. Vua Minh Mạng cho rằng Nguyễn Văn Xuân đã cao tuổi nên giao Nguyễn Văn Tuyên thay Nguyễn Văn Thoại giữ chức Bảo hộ Chân Lạp (6) quốc kiêm Thống chế Án thủ thành Châu Đốc và Biên vụ Hà Tiên. Đây là giai đoạn bang giao giữa Việt Nam – Xiêm La và Chân Lạp luôn luôn là một quá trình giằng co, tranh chấp lẫn nhau. Nhà Nguyễn luôn xác định một điều rằng nếu giữ vững được chế độ bảo hộ Chân Lạp tức là giữ vững tuyến phòng thủ biên giới đối với Xiêm La. “Minh Mạng chẳng những đề phòng người Xiêm mà còn cả người Anh Cát Lợi. Vì lúc bây giờ, sau khi chiếm một phần lãnh thổ Ấn Độ làm thành thuộc địa của mình, người Anh bắt tay vào việc đánh chiếm một phần đất đai của Miến Điện trong các năm 1822 – 1824” (7).

Năm 1831, nhận thấy Xiêm La có nhiều động thái bất lợi với ta, Minh Mạng đã chỉ dụ “phái ngay trọng binh đi đóng giữ các trấn Châu Đốc, Hà Tiên, giương thanh thế trước để trấn áp, làm tiêu tan tà tâm của họ đi”. Riêng Nguyễn Văn Tuyên được lệnh đem quân lên Nam Vang đóng giữ, đề phòng biến loạn xảy ra. Tháng 6/1831, ông lâm trọng bệnh và được chuyển về mất tại Châu Đốc. Mặc dù chỉ trong gần hai năm ngắn ngủi nhưng Nguyễn Văn Tuyên đã hoàn thành nhiệm vụ của mình là giữ an biên giới, mở mang bờ cõi bằng cách thu phục nhân tâm và tạo mối đoàn kết giữa hai dân tộc ở vùng biên giới.

Tác giả: Hữu Nhân

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây