KỲ 1. TUYÊN TRUNG HẦU NGUYỄN VĂN TUYÊN

0
265

Kỳ I: Tuyên Trung Hầu và những tồn nghi cần làm sáng tỏ

Lăng Tuyên Trung Hầu (Nguồn: Internet) 

Lăng Tuyên Trung Hầu (Nguồn: Internet)Cho đến nay, nhiều người vẫn cho rằng gia tộc của Nguyễn Hầu ở Tòng Sơn thuộc thôn Mỹ An, phủ Tân Thành, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang (nay thuộc xã Mỹ An Hưng A, Lấp Vò, Đồng Tháp) bắt đầu từ ông Phan Văn Tuyên, con trai của ông Phan Văn Hậu và bà Võ Thị Đức. Phan Văn Tuyên do lập được nhiều chiến công cho nhà Nguyễn nên được ban quốc tính và cải từ họ Phan sang họ Nguyễn. Sự nhầm lẫn này kéo dài trong một thời gian dài và thật sự mới phần nào được “đính chính” tại cuộc Hội thảo về “Tuyên Trung Hầu với gia tộc với đất Nam Kỳ” do Hội Khoa học lịch sử Đồng Tháp tổ chức vào ngày 21/06/2017.

Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Trường thì họ Nguyễn Phúc là công tính, sau gọi là quốc tính của nhà Nguyễn chỉ “ân tứ” cho hai người là Nguyễn Kiều và Mạc Cảnh Huống là những người theo Nguyễn Hoàng vào Nam khai sáng nhà Nguyễn. Sau nay, khi Nguyễn Ánh lên ngôi đã phân ra các loại công thần. Trong đó đáng chú ý nhất là Vọng Các công thần (tức những người theo Nguyễn Ánh từng đồng cam cộng khổ đến tận Vọng Các ở Xiêm La lánh nạn) và Dực Vận công thần (tức những người theo Nguyễn Ánh từ căn cứ Long Hưng – Nước Xoáy đến lúc Nguyễn Ánh  trở lại Gia Định và lên ngôi Chúa). Sau này, chúa Nguyễn còn chọn ra 10 người khác từng theo mình gánh chung những hoạn nạn để ban tặng “kim bài miễn tử” như Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Tồn. Trong số này, có Nguyễn Huỳnh Đức tức Huỳnh Công Đức, được Gia Long cho mang họ Nguyễn nhưng vẫn giữ lại họ Huỳnh của dòng dõi gia đình.

Trong hai bộ sách đáng tin cậy nhất là Đại Nam liệt truyện (1) và Đại Nam thực lục (2) không thấy ghi chép sự kiện Thống chế Nguyễn Văn Tuyên được ban quốc tính. Như vậy họ Nguyễn của Tuyên trung Hầu được đổi từ họ Phan có từ khi ông Phan Văn Hậu còn sống. Tuy nhiên lý do gì để ông Phan Văn Hậu đổi sang họ Nguyễn thì chưa có tài liệu nào ghi chép. Theo thiển ý của người viết, có thể việc đổi họ xảy ra do ông Phan Văn Hậu theo Chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777) từng  làm quan đến chức Chánh đội trưởng. Có người thì nói là Vệ úy. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì Phan Văn Hậu chỉ làm tới chức Chánh đội trưởng là đúng nhất vì thời chúa Nguyễn từ năm 1558 đến 1777 thì hệ thống quân đội nhà Nguyễn chia thành Dinh, cơ, đội, thuyền. Chánh đội trưởng cũng chỉ tương đương hàm võ quan từ Chánh cửu phẩm đến Chánh bát phẩm. Với vị trí đó, Phan Văn Hậu không thể nào có đủ công trạng để được thụ phong quốc tính hay công tính. Năm 1777, Chúa Nguyễn Phúc Thuần đại bại và bị Tây Sơn xử tử tại Long Xuyên thì thế lực chúa Nguyễn gần như hoàn toàn tan rã. Phần do trốn tránh sự truy sát của nhà Tây Sơn và phần do để tưởng nhớ Chúa công của mình nên Phan Văn Hậu đã đổi sang họ Nguyễn. Cũng xin nói rõ thêm, họ Nguyễn cũng là họ đông nhất ở Việt Nam nên việc Phan Văn Hậu đổi sang họ Nguyễn cũng là điều tất yếu. Như vậy, Tuyên trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên phải mang họ Nguyễn theo cha cũng là tất nhiên chớ không phải được vua ban quốc tính hay công tính gì.

Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên (1763 – 1831) (Nguồn: Internet)
Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên (1763 – 1831) (Nguồn: Internet)

Nguyễn Văn Tuyên mất vào năm Minh Mạng thứ 11 tức là năm 1830. Nhưng nhiều sách vở lại ghi ông mất năm khi thì 1831 lúc lại là 1832. Tuy nhiên, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với những thông tin của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thuận khi tiếp cận với Thần chủ (3). Thần chủ của Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên do con trai là Nguyễn Trường Cửu ở phần Nội hàm có ghi rõ: Mất vào giờ Thìn ngày 28 tháng 5 năm Tân Mão (1831). Nhân chuyện này, chúng tôi cũng xin nói thêm, trong Nội hàm Thần chủ của thân mẫu ông Nguyễn Văn Tuyên là bà Võ Thị Đức có ghi bà mất năm Giáp Tý (1804) và được phong là Nhụ nhơn. Theo tài liệu của Nhà Nguyễn ghi chép thì năm 1804 là năm Gia Long thứ 3, vua cho ban hành quan chế Gia Long (4). Trong quy định về quan chế này, không có quy định nào về việc phong Thụy hàm cho các phu nhân. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 7 (1828) mới có quy định cụ thể về việc này(5). Theo đó thì vợ quan bát phẩm và cửu phẩm sau khi mất được phong là Nhụ nhơn. Các thụy hàm này là các phẩm hàm được sủng ân, tức vinh danh, được phong khi mất, được khắc trên bia mộ, sắc phong, nên không là thực hàm, không ăn lương. Như vậy, việc thân mẫu của Nguyễn Văn Tuyên được phong Nhụ nhơn không phải do đích thân nhà vua phong tặng mà do gia đình tự lập trên hệ quy chiếu theo các quy định trong điển lệ.[1] Trường hợp này, chúng ta càng thấy rõ ràng hơn khi bốc mộ bà Đặng Thị Vị, chánh thất của Phó lãnh binh Nguyễn Trường Cửu (con trai trưởng Nguyễn Văn Tuyên) vào tháng 4/1971, gia đình đã phát hiện ra một tấm minh tinh (6) ghi Thụ Thuận An Nhơn. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì Nguyễn Trường Cửu khi tử trận tại Gò Sặt (Pursat) vào năm 1838 là An Hà đốc phủ, Phó lãnh binh An Giang. Với chức tước này ít ra cũng là tứ phẩm thì bà Đặng Thị Vị phải được phong là Cung nhân mới đúng quy chuẩn. Có thể, gia đình đã nhầm lẫn khi viết vào tấm minh tinh đưa đi an táng theo bà.

Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên có tham gia trong trận đánh Phú Xuân năm 1801 hay không cũng là một vấn đề được đặt ra trong hội thảo. Nhà nghiên cứu Dương Tô Quốc Thái đến từ Kiên Giang căn cứ vào ghi chép trên Đại Nam thực lục: “Mùa hạ, tháng 4, năm Tân Dậu (1801)Phó vệ úy vệ Hổ oai Hữu dinh là Nguyễn Văn Tuyên làm Vệ úy vệ Kiên oai” dưới quyền của Chánh thống Phan Văn Triệu cùng theo đạo quân Lê Văn Duyệt đánh chiếm Phú Xuân. Tổ chức quân đội  nhà Nguyễn lúc đó gồm có: ngũ, thập, đội, cơ, vệ, doanh, đạo thì một chỉ huy một vệ quân (khoảng 600 lính) cũng không phải là lớn lắm. Tuy nhiên, Tiến sĩ Huỳnh Công Tín lại cho rằng với chức Vệ úy vệ Hổ oai quân thần sách thì xếp vào phẩm trật tương đương bậc Chánh tam phẩm và chỉ huy trên hai ngàn quân. Theo chúng tôi thì không nhiều đến như vậy mà chỉ khoảng 600 quân trong một vệ là con số chính xác nhất. Thời Minh Mạng, một vệ chỉ còn có 500 quân. Như vậy, việc Nguyễn Văn Tuyên có mặt trong đội quân của Nguyễn Ánh tiến đánh Phú Xuân vào năm 1801 là khả năng có thể xảy ra. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu khác thì cho rằng, cũng có thể Nguyễn Văn Tuyên không theo đoàn quân Chánh thống Phan Văn Triệu. Vấn đề này cũng còn là một tồn nghi nhưng chúng tôi hoàn toàn đồng ý với đa số ý kiến trong hội thảo rằng: Dù Tuyên trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên có tham gia đánh Phú Xuân đi nữa thì vai trò của ông đóng góp vào thắng lợi này không phải là lớn lắm.  Lớn nhất phải nói đến chính là công lao của ông và gia tộc ông đối với vùng đất Tây Nam bộ vào những năm đầu thế kỷ XIX, trong đó có dấu ấn rất lớn trong công trình đào kinh Vĩnh Tế và giữ an vùng biên giới trong một thời gian dài khi được vua Minh Mạng giao cho nhiệm vụ là Thống chế lãnh bảo hộ Cao Miên quốc ấn, án thủ thành Châu Đốc kiêm lãnh Hà Tiên trấn biên vụ.

Kênh Vĩnh Tế và vùng biên giới với Cao Miên của 2 tỉnh Hà Tiên, An Giang thời nhà Nguyễn (Nguồn: Internet)
Kênh Vĩnh Tế và vùng biên giới với Cao Miên của 2 tỉnh Hà Tiên, An Giang thời nhà Nguyễn (Nguồn: Internet)

Tác giả: HỮU NHÂN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây