Đồng Tháp Mười – Nhân vật ký – Kỳ II: Chú Tư Tờ, người một mình xây đền thờ liệt sĩ

0
326

Ở Kì II của ĐỒNG THÁP MƯỜI – NHÂN VẬT KÝ, tác giả muốn gửi đến người đọc câu chuyện về một nhân vật một mình xây đền thờ liệt sĩ. Một tấm gương sáng, quên mình tưởng nhớ những anh hùng đã ngã xuống vì đất nước.

Cứ mỗi lần có nhà báo đến hỏi thăm là tôi sợ lắm. Sợ gì à? Sợ phải thêm một lần nữa kể lại câu chuyện thương tâm của ngày ấy. Hơn nữa, tôi sợ các anh chiến sĩ lại thêm một lần nữa nghe thấy. Với người khác thì sao cũng được nhưng với vợ chồng tôi thì hồn phách các anh vẫn còn lẫn khuất đâu đó trong cái căn nhà này gần ba mươi năm nay rồi.

Thấy anh còn do dự, tôi liền lái câu chuyện sang một hướng khác. “Ủa, sao đền thờ các liệt sĩ ở đây anh đặt tên là Bắc Bỏ.”

À, Bắc Bỏ là những người Bắc đã bỏ thân tại đây vì độc lập tự do cho đất nước mình. Còn con kinh trước nhà tui thì cũng có tên là kinh Bắt Bỏ nữa nghe. Nhưng “bắt” ở đây có nghĩa là bắt được. Nghe nói hồi xưa mấy cái bưng, bàu, đìa, trũng xứ này nhiều đến nổi bà con bắt được cá đem ra tới bờ kinh này phải lựa cá nhỏ bỏ bớt lại mới chở về nhà được. Chớ không thả thì xuồng ghe đâu chở cho xuể. Kinh Bắt Bỏ là vậy đó. Nhờ cá bắt được rồi thả bỏ mà có cá hoài không hết. Giờ thì có bữa nước trong như rượu, kiếm có cá đỏ con mắt.

“Còn chuyện đền thờ thì sao anh?”

Anh Tư Tờ (tên thật là Nguyễn Văn Tư) lại trả lời tôi bằng một câu chuyện khác.

Có người hỏi tôi sao biết chắc trận đánh này diễn ra vào ngày 03 tháng 10 năm 1970(tức mùng 8/9 âm lịch). Sao lại không biết. Năm đó tôi mười hai tuổi nhưng nhớ hết. Cả một ngày tiếng pháo đì đùng trên trời không dứt. Chúng bắn vào Đá Biên từ ba hướng. Hướng Tân An bắn lên, Mộc Hóa bắn xuống, rồi Thạnh Hóa bắn qua. Mười hai chiếc trực thăng gầm gừ đến tối mịt mới thôi. Anh Hai tôi lúc đó là du kích địa phương cũng hy sinh ngay trong ngày này nên tôi không nhớ rõ thì còn ai nhớ.

Theo anh Tư Tờ và những người dân Đá Biên thì hôm đó có gần ba trăm chiến sĩ của Tiểu đoàn I, trung đoàn 207 thuộc Quân khu 8 bị bao vây và chỉ trong một ngày còn duy nhất một người sống sót. Càn quét xong, chúng còn cho chặn hết các ngả ra vào khu vực này suốt 12 ngày trời. Chừng khi anh em mình vào được trận địa để tìm kiếm hài cốt đồng đội thì mọi thứ như một vùng trắng tang hoang chìm sâu trong mênh mông nước. 

chu-tu-to
Bên trong đền thờ liệt sĩ của chú Tư Tờ – Ảnh: Hữu Nhân

Như một cơ duyên đã định trước, người Trưởng ban liên lạc bạn chiến đấu và cựu cán bộ trung đoàn 207 ngày nay từng là lính trinh sát tham gia cùng đồng đội trở lại Đá Biên sau 12 ngày ngày đêm bi tráng của năm 1970 ấy lại là anh Phan Xuân Thi – một nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng từng tham gia các chương trình đêm thơ Nguyên Tiêu ở Đồng Tháp từ nhiều năm trước. Lịch sử một lần nữa qua lời kể anh Phan Xuân Thi như lật lại từng trang trước mắt tôi. Tháng 10/1973, tiểu đoàn I, trung đoàn 207 nhận nhiệm vụ bí mật luồn sâu xuống Đồng Tháp Mười thuộc vùng 8 Kiến Tường cũ. Anh em phần lớn là tân binh mới nhập ngũ từ Đại học Xây dựng Hà Nội mới bổ sung về đơn vị trước đó 2 ngày, chưa quen chiến trường đồng nước, chưa có kinh nghiệm chiến trường đã giăng võng, phơi quần áo lên cây tràm nên bị máy bay trinh sát của địch phát hiện.

Và trận chiến không ngang sức xảy ra như lời anh Tư Tờ đã kể. Mười hai ngày sau, đại đội trinh sát cùng với lực lượng địa phương mới tổ chức được lực lượng đưa quân vào tìm đồng đội. Chỉ duy nhất 1 đồng chí cán bộ bị thương nặng, được bà con cấp cứu thuốc men, giấu ngoài đồng, hàng đêm đưa cơm ra nuôi sau này đưa về đơn vị chiến đấu (đồng chí này nay vẫn còn sống). Giữa cánh đồng, xác các anh nổi lên, đồng đội dùng mùng để vớt như người ta lưới cá. Cánh đồng ngập nước không có đất chôn nên phải bó lại treo lên, hoặc cột chặt vào cây tràm để mùa khô đồng bào chôn giúp. Vậy là cụ thể, có 291 người lính đã phải nằm lại vĩnh viễn nơi này. Sau trận càn này, trung đoàn 207 tiếp tục hành quân rồi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, tham gia chiến tranh biên giới Tây Nam. Chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, trung đoàn 207 giải thể. Còn trước đó thì khu 8 sát nhập khu 9, tỉnh Kiến Tường sáp nhập vào tỉnh Long An, Long An sáp nhập vào quân khu 7…

“Những đồn thổi về sự linh thiêng ở đây có bao giờ anh tận mắt thấy chưa?” – Tôi lại bắt chuyện tiếp với anh Tư Tờ sau cuộc trao đổi ngắn qua điện thoại với anh Phan Xuân Thi.

Tôi là một người lính từng tham gia chiến tranh biên giới Tây Nam rồi chuyển sang nông trường làm kinh tế mới. Hồi những năm 1980 thì nơi đây thuộc nông trường Đồng Tháp 3. Sau đó, nông trường giải thể chia đất lại cho bà con. Tôi xuất ngũ vào nhận mảnh đất này từ năm 1991. Thiệt ra, thì năm 1975 đã có nhiều người dân đến đây khai hoang lập nghiệp phát hiện ra nhiều hài cốt. Họ gom lại đem chôn chung và một chỗ rồi chớ không phải tới lượt tôi. Và nhiều chuyện lạ lùng thuộc về tâm linh không thể lý giải được liên tục xảy ra. Có một người giờ nói ra cả ấp này ai cũng biết. Lần nọ ông ta gom được mớ xương anh em mình đem ra đốt. Tự dưng sau đó bị bệnh tâm thần suốt ba bốn năm trời, gia đình phải lập bàn thờ khấn vái hồn thiêng các anh tha cho thì mới khỏi. Một người khác cũng ở gần đây thôi, hồi mới về khai hoang, nửa đêm ngủ mơ thấy có người nói: Cho con ăn với, con đói lắm, lạnh lắm. Con còn năm trên cây. Sáng ra, tìm mãi mới thấy một bộ hài cốt gói trong võng nilon nằm kẹt trên đọt một cây tràm.

chu-tu-den-tho-liet-si
Tác giả cùng chú Tư Tờ thắp nhang cho các liệt sĩ – Ảnh: Hữu Nhân

“Anh có tin chuyện này không?” Nghe tôi hỏi, anh Tư Tờ đột nhiên nhìn tôi với một cái nhìn khác hẳn.

Chú em không tin à? Mà cũng phải. Hồi tôi mới về ở đây, nghe người này người kia nói chớ cũng không thấy không tin. Có khi, mấy anh em từ nơi khác mùa nước tới nhà tôi ở nhờ làm để đi giăng câu giăng lưới kể thỉnh thoảng họ nghe có tiếng hát giọng người Bắc văng vẳng trong đám tràm thì tôi mới bắt đầu hơi có cảm giác các anh chiến sĩ ấy hình như đang ở xung quanh nhà mình. Chừng tới khi, nó ứng vào đứa con gái tôi ngay trong căn nhà này thì vợ chồng tôi mới tin là vong hồn các anh chiến sĩ có thiệt. Vài ba ngày, các anh lại “nhập” vào con gái tôi rồi than là đói, lạnh và không nhớ đường về quê. Có lúc, nó lấy rượu ra ngồi nhậu một mình. Thấy vậy, tôi đem cất thì tối nằm ngủ lại thấy các anh lại “giận” nói rằng đông vậy uống chưa ”đã” mà mang cất là sao… Cứ mỗi lần như vậy, tôi ra miếu khấn các anh thì con tôi khỏi bệnh. Còn chở đi bệnh viện bữa trước hết bữa sau về vẫn y như vậy.  Nhứt là cái chuyện cất miếu. Thiệt ra, hồi đó vợ chồng tôi nghèo lắm nhưng cứ cất lên cái nào thì các anh tối về báo mộng nói nhỏ quá không ở đủ. Mãi tới lần thứ ba mới thôi. Thử hỏi, tôi và bà con không tin sao được.

Chuyện ứng vào gia đình anh Tư Tờ thì tôi được nghe tường tận hơn qua lời kể của chị Tư. Năm 1990, vợ chồng anh làm ruộng phát hiện thấy 3 bộ hài cốt không còn nguyên vẹn. Xót thương, anh đắp một nấm mồ chôn chung. Vừa thắp nhang, anh lâm râm khấn nguyện hương linh các liệt sĩ phù hộ cho gia đình trúng mùa để sớm thoát cảnh đói nghèo thì anh sẽ lập miếu thờ cúng. Năm đó, anh Tư Tờ thu hoạch hơn 500 giạ lúa. Nhưng rồi do mãi làm ăn nên anh quên mất lời hứa với các liệt sĩ.

Đêm nọ, bé Nguyệt, con gái đầu, sinh năm 1981, vừa tròn 9 tuổi, đang khỏe mạnh bỗng lăn đùng ra bệnh. Mặt xám ngoét, mắt thất thần, suốt ngày cháu ôm đầu kêu la vì đau đớn. Vợ chồng anh bán hết chục giạ lúa này đến chục giạ lúa khác ôm con đi bệnh viện  tỉnh chữa chạy mà không khỏi. Tối nọ, đang thiu thiu ngủ, anh chợt nghe tiếng trách móc, giọng đầy ai oán: “Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay”. Anh giật mình tỉnh giấc. Sực nhớ đến lời khấn nguyện và lời hứa hôm nào, sáng sớm hôm sau, anh vội lập một đền thờ trong khuôn viên đất nhà. Chị Mai Thị Tiếp, vợ anh thì lo sửa soạn một mâm cơm cúng trả lễ. Vậy là con gái anh Tư Tờ hết bệnh hẳn cho tới giờ,

Cái ngôi miếu thờ hai mái rộng mỗi mái ba tấm tôn, nền gạch, xây tường mang tên Bắc Bỏ cứ như vậy tồn tại suốt nhiều năm trời ở Đá Biên này được vợ chồng anh Tư Tờ nhang khói quanh năm. Vào ngày mùng 8/9 âm lịch thì bà con tụ về làm giỗ cho các anh, đàn ca suốt đêm.  Mãi tới năm 2010, anh Phan Xuân Thi cùng một vài đồng đội tìm về vùng đất này và được bà con điềm chỉ mới vào được nhà anh Tư Tờ.

Kể chuyện tìm về nơi đồng đội mình hy sinh, anh Phan Xuân Thi nhớ lại: Khi vào đây tôi nhìn thấy một cái chòi lợp tôn đơn sơ, giữa chòi là một tấm bia xây bằng gạch đỏ chẳng tô trát gì. Trên vách là lá cờ đỏ sao vàng. Bên dưới tấm bia là bát nhang và ly, dĩa. Lúc đó, không cầm lòng được tôi đã gục đầu khóc nấc lên: “Các đồng chí ơi, đau xót quá, 40 năm rồi vẫn cứ nằm đây mà chúng tôi không hề hay biết”. 

Mà thôi, nhắc chi chuyện đó. Sau lần chú Ba Thi về đây thì ít lâu sau ấp Đá Biên rộn rịp người tới lui. Những thân nhân của các anh từ ngoài Bắc về đây cúng kiến suốt ngày suốt đêm. Chỉ tội, bà con ở xa tới mà xứ mình chưa có điện nước nên bà con cũng vất vả. Vừa dẫn tôi qua đền thở thắp nhang cho các liệt sĩ ở đây, anh Tư Tờ kể thêm. Giờ thì, ngôi đền liệt sĩ thờ phượng các anh hùng liệt sĩ ở Đá Biên này được ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam tài trợ xây dựng từ năm 2012 rất khang trang gồm gồm các hạng mục: nhà văn bia, đền thờ và khu phụ trợ phía sau nhà thờ… cùng với một cảnh quan thật đẹp trong khuôn viên rộng khoảng 5.000m2 do anh Tư Tờ phụng hiến đã trở thành một địa chỉ giáo dục truyền thống của các thế hệ sau này.

Đêm đêm anh Tư Tờ vẫn lên đền thờ thắp hương cho các anh. Nhưng cái miếu Bắc Bỏ bên bờ kinh Bắt Bỏ vẫn còn nguyên như hồi mới cất. “Bữa nào thiếu nhang khói ở đây, trong lòng tôi cảm thấy không yên. Có nhà lớn rồi, người ta chắc cũng chưa quên nhà nhỏ. Tôi cũng vậy thôi. Sau khi xây xong đền thờ thì các anh cũng vận động đơn vị Vietsopetro cất cho tôi một căn nhà tình nghĩa. Vậy mà, tôi cũng vẫn cứ nhớ căn nhà rách trước trống sau của mình hồi nào”. 

Tôi rời khỏi Đá Biên trên chiếc tắc ráng do anh Tư Tờ đích thân đưa tôi ra kinh Bắt Bỏ qua ngang kinh 79 cho kịp cơn mưa đang sầm sập kéo tới. Hình ảnh người đàn ông một mình làm cả đền thờ liệt sĩ suốt hai mươi năm cứ ám tôi như một câu thơ viết về chiến tranh của Văn Lê:

Năm tháng chúng tôi đi cánh rừng xao xác lá

Trước mặt đạn bom, sau lưng cũng đạn bom

Tiểu đoàn tôi ba trăm người tất cả

Chỉ còn năm, khi về tới Sài Gòn.

Thơ ca là nghệ thuật của hư cấu. Nhưng ở đây, tại Đá Biên này sự thật còn hơn cả hư cấu vì cả tiểu đoàn chỉ còn một thôi, khi về tới Sài Gòn.

Tác giả: Hữu Nhân

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây